Cài đặt Mac OS X trên PC
16/12/2011
FacebookTwitterDeliciousStumbleuponDiggMyspaceLinkedInZingmegovnlinkhay


Cài đặt Mac OS X trên PC Nhằm mục đích giới thiệu với các bạn một hệ điều hành mới, một trải nghiệm mới trên vùng đất PC bấy lâu nay bị Microsoft Windows che phủ, mình làm bài hướng dẫn “Cài đặt Mac OS X trên PC”. Tất nhiên, bài viết đầu tiên này sẽ chỉ dám dừng lại ở mức đơn giản, đủ để các thành viên còn lạ lẫm với Macintosh nói chung, Mac OS nói riêng có khả năng tiếp thu và thực hành một cách hứng thú. Cao hơn một chút, các bạn sau khi đọc xong dù chưa thể tự cài đặt Mac OS X, cũng tiếp nhận được một vài kiến thức bổ ích, đủ khả năng tự mình tìm hiểu và giải quyết vấn đề với thông tin từ nhiều nguồn khác. Chúng ta sẽ bắt đầu với chủ đề dễ nhất, đồng thời cũng phổ biến nhất: Cài đặc Mac OS X trên Intel desktop PC. Các bài viết về Mac OS X trên AMD PC, laptop các thể loại sẽ được tiếp nối nếu bài đầu tiên này thành công (và nếu tác giả đủ khả năng cũng như kiến thức). Cài đặt Mac OS X Đồ nghề chuẩn bị. Liệt kê và download: Do sử dụng phương pháp boot-132 để khởi tạo môi trường cho Mac, chúng ta cần đĩa cài đặt retail của Mac OS X và một đĩa boot khởi tạo. Đĩa boot khởi tạo môi trường EFI: Empire EFI 1.085 hoặc 1.085 R2 – chọn phiên bản thích hợp cho PC của mình Đĩa retail Mac OS X phiên bản Lion 10.7.2(mới nhất hiện nay). Các bạn có thể mua từ các cửa hàng Apple với giá 29$, hoặc download torrent. Do có dung lượng gần 7GB nên chúng ta cần một đĩa DVD+R double-layer. Bootloader: Chameleon 2 RC4. Giới thiệu các bước cài đặt. 1. Thiết lập lại BIOS. 2. Khởi động với đĩa giả lập EFI. 3. Boot đĩa retail Mac OS X. 4. Chia và format phân vùng Mac OS X. 5. Cài đặt và khởi động vào Mac OS X lần đầu. 6. Cài đặt bootloader, kext cơ bản. 7. Cài đặt các thiết bị. Đầu tiên chúng ta giải quyết nhanh 3 bước đầu. 1. Thiết lập lại BIOS: chúng ta cần thiết lập BIOS sao cho giống nhất với một chiếc Macintosh.

Đầu tiên là disable floppy disk.

Tiếp theo tạm thời tắt C1E/C2E/C4E gì đó của CPU đi (có thể gây rắc rối khi boot), về sau cài đặt kext đầy đủ chúng ta sẽ bật lại.

Mac chỉ sử dụng AHCI nên chúng ta cũng chuyển qua thiết lập này cho các cổng SATA. Tiện thể enable USB support cho keyboard và mouse. Mac không hỗ trợ cổng PS/2 trên PC nên tốt nhất là keyboard và mouse sử dụng USB. Nếu không chúng ta cũng có thể cài đặt kext cho PS/2 keyboard/mouse.

Bật HPET (High Precision Event Timer) nếu có và chuyển về chế độ 32bit. Nếu bạn dự định chạy kernel của Mac ở mode 64bit thì chuyển HPET sang 64bit. 2. Khởi động với đĩa giả lập EFI.

Tiếp theo bỏ đĩa EFI vào và boot tới khi xuất hiện màn hình như trong hình. Bạn có thể sử dụng các bản EFI khác nhau, như với mainboard P55 có thể sử dụng bản của tonymacx86. Bài viết này tôi sử dụng Empire EFI, đây là bản EFI nổi tiếng nhất và có đầy đủ các phiên bản support cho các hệ PC khác nhau, bao gồm cả P55 và ATI VGA và một số dòng CPU & chipset AMD cũ. 3. Boot đĩa retail Mac OS X. Tiếp theo lấy đĩa EFI ra, bỏ đĩa Mac OS X retail vào, đợi khoảng 20s (quan trọng) và nhấn F5. Khi đĩa Mac OS X Install DVD xuất hiện trong menu thì chọn boot.

Tiếp theo sau khi load các kext default thì ta enter để load tiếp kernel. Nếu sau bước này các bạn có thể boot vào tới màn hình chào mừng của Mac OS X Installation thì coi như bước 3 thành công. Nếu không, xem lại đĩa EFI của bạn hoặc đổi sang bản khác 4. Chia và format phân vùng Mac OS X. Sau khi màn hình install Mac OS X xuất hiện, bước tiếp theo cần làm là chia đĩa và format. Bản Mac OS X 10.5 Leopard vẫn còn hỗ trợ đồng thời 2 kiểu phân vùng ổ cứng MBR và GPT, nhưng kể từ Mac OS X 10.6 thì Apple đã chuyển hẳn sang sử dụng GPT. MBR và GPT là 2 định dạng phân vùng ổ cứng khác nhau, quy định cách thức lưu trữ các thông tin về partition (phân vùng), boot sector cũng như Master boot record trên đĩa. MBR và GPT không liên quan gì đến hệ thống tập tin (file system) cả, đó là cách mỗi phân vùng tổ chức và quản lý dữ liệu (các file) của riêng mình. Kể từ Windows Vista SP1 trở đi Microsoft mới chính thức hỗ trợ định dạng ổ đĩa GPT. Tất nhiên các ổ cứng PC đều được phân vùng theo chuẩn MBR là chủ yếu, dù rằng GPT (như trong hình) cho thấy nhiều tính năng tiến bộ hơn. điều này một phần là do Windows mới chỉ hỗ trợ GPT gần đây chứ chưa chuyển hẳn qua, và một lý do khác nữa là các trình chia đĩa (partitioner) cũ như Acronis Disk Director và Partition Magic chỉ hỗ trợ MBR mà thôi. Ngay cả các chương trình backup như Acronis True Image cũng chỉ hỗ trợ MBR, phiên bản mới nhất mới bắt đầu hỗ trợ GPT. Tạm thời chúng ta không bàn tới thế giới của Linux, chú chim cánh cụt này hỗ trợ được tất cả các chuẩn ngay khi ra mắt do đặc tính mã nguồn mở của mình. Để chia partition và format đĩa cứng, các bạn truy cập vào Disk Utility trong menu Utilities. Lưu ý: format theo chuẩn GPT sẽ xóa trắng toàn bộ ổ cứng của bạn (hiện đang theo chuẩn MBR), sau đó mới tiến hành phân vùng. Do vậy bạn nên sử dụng một ổ cứng riêng cho Snow Leopard, hoặc có thể tìm download bản OS X đã được sửa đổi để hỗ trợ MBR. Nếu bạn sử dụng bản Snow Leopard MBR, sau khi chia và format HFS+, nhớ dùng Acronis Disk Director để chuyển phân vùng đó thành primary active mới có thể cài đặt được. Đây là hướng dẫn cho GPT: Nhấn vào ổ đĩa muốn cái đặt (tên đĩa cứng chứ không phải phân vùng), vào mục Partition. Chọn số partition muốn tạo (1 hoặc nhiều hơn). Nhấn Option và chọn GUID Partition Table (GPT). Điền tên cho mỗi phân vùng, chọn format Mac OS Extended (Journaled) hay còn gọi là HFS+ cho phân vùng cài đặt. Cuối cùng là nhấn Apply. HFS+ của Mac và NTFS của Windows đều là 2 hệ thống tập tin tiên tiến và có nhiều ưu điểm. Thời kì FAT32 cũ kĩ, hệ thống tập tin này chỉ lưu được những file có dung lượng <4GB mà thôi, đồng thời không có được khả năng chịu lỗi cũng như tự sửa lỗi và bảo trì (self-correcting & maintenance). NTFS được Microsoft phát triển, tích hợp nhiều tính năng quan trọng như khả năng ghi nhật kí (journaling), tích hợp hệ thống phân quyền tập tin ACL (Access Control List), hỗ trợ mã hóa, nén dữ liệu và hàng tá những thứ khác. NTFS được đưa vào sử dụng từ thời Windows 2000 mãi cho tới nay. Ở bên kia chiến tuyến, HFS+ (Hierarchical File System Plus) cũng được Apple trang bị nhiều vũ khí hạng nặng không kém. HFS+ hỗ trợ Unicode UTF-16, khả năng lưu giữ tập tin với dung lượng file lớn không hạn chế. Tuy không hỗ trợ transparent encryption nhưng HFS+ có khả năng nén dữ liệu rất mạnh mà không làm ảnh hưởng nhiều tốc độ truy cập. Giống với Windows sử dụng ACL, HFS+ hỗ trợ hệ thống phân quyền Unix Permissions (sẽ nhắc tới ở phần cài đặt kext). HFS+ còn có khả năng bật tắt tính năng ghi nhật kí (journaling) nhằm tăng cường chống lỗi trong trường hợp mất điện. Đặc biệt, HFS+ có khả năng chống phân mảnh (Mà NTFS và Windows không có) đối với các tập tin dung lượng < 20MB, đồng nghĩa với việc bạn không phải bận tâm về việc defragment ổ đĩa của mình nữa. Từ Mac OS X 10.5 trở đi, Apple đã tích hợp vào OS của mình khả năng read-only với phân vùng NTFS. Với Windows, tuy chưa được hỗ trợ từ Microsoft nhưng cũng có thể dùng một phần mềm hãng thứ 3 như Mac Drive để truy cập phân vùng HFS+. Lưu ý phát nữa: các bước trên đây đều có khả năng ảnh hưởng đến dữ liệu trên ổ cứng của bạn, vì vậy suy nghĩ kĩ trước khi hành động. Tác giả không chịu bất kì trách nhiệm nào trong trường hợp mất mát xảy ra. Boot và Installation. Sau khi format xong thì chúng ta thẳng tiến tới màn hình cài đặt. Trước khi nhấn Install cần customize lại để lựa chọn một vài thứ. Rosetta là một phần mềm giả lập để Mac chạy được các phần mềm viết cho kiến trúc PowerPC cũ, vì vậy cứ select cho an tâm. Sau khi cài đặt xong (khoảng 20 phút), máy sẽ khởi động lại. Ở bước này các bạn lại bỏ đĩa EFI vào boot (do chưa có bootloader trên đĩa cứng). Chọn phân vùng vừa mới cài Snow Leopard và tiếp tục. Ở bước này có thể sẽ có một vài máy không boot được (treo giữa chừng, xuất hiện thông báo kernel panic hoặc tương tự). Các bạn có thể sử dụng tham số cpus=1 (chỉ sử dụng 1 nhân CPU) để tiếp tục. Sau khi cài đặt hoàn chỉnh chúng ta có thể boot bình thường. 5. Cài đặt và khởi động vào Mac OS X lần đầu. Sau khi xuất hiện màn hình welcome của Apple Mac OS X (chúc mừng được 70% rồi nhé), bạn điền các thông số cho tài khoản người dùng và tiếp tục. Desktop cùng dock và menu quen thuộc của Mac hiện ra.

Việc đầu tiên chúng ta cần làm là tắt chức năng sleep của hệ thống. Nó có thể gây treo máy và nhiều lỗi linh tinh khác. Bật System Preferences trên thanh dock, vào Energy Saver và tắt như trong hình. 6. Cài đặt bootloader, kext cơ bản. Tiếp theo chúng ta sẽ cài đặt bootloader và các kext cơ bản của hệ thống. Vào đĩa Empire EFI, thư mục Extra/Post-Installation và chạy gói cài đặt myHack. Chương trình này sẽ cài đặt Chameleon 2.0 RC3, PC EFI 10.5, FakeSMC v2, lspci, pfix v2.1.1 để bạn có thể boot mà không cần đĩa EFI nữa đồng thời cũng có các kext cơ bản cần thiết. Nhớ đọc kĩ hướng dẫn sử dụng trước khi chọn bất kì mục nào. Giữ trong đầu tư tưởng “thiếu còn hơn thừa”, vì thiếu thì có thể boot vào lại cài thêm, còn thừa thì mất công lắm. Sau khi cài đặt xong đừng restart vội. Tôi sẽ hướng dẫn các bạn cài đặt Chameleon 2 RC4. Nhét USB chứa Chameleon 2 RC4 đã chuẩn bị từ đầu, giải nén và copy thư mục Chameleon ra desktop. Tiếp theo tìm thư mục Extra trên thư mục root phân vùng cài đặt SL. Copy các thứ trong Chameleon/Optional Extras vào theo như trong hình. Bật chương trình terminal (đường dẫn /Applications/Utilities/Terminal.app) lên và gõ các lệnh cài đặt như sau: sudo -s (nhập password khi tạo user account vào để chuyển sang chế độ super user). cd Desktop/Chameleon/i386 diskutil list (liệt kê tên các ổ đĩa trên máy – ghi lại tên của ổ đĩa cài Mac OS X, của tôi là đĩa disk0, phân vùng disk0s2). fdisk -f boot0 -u -y /dev/rdisk0 (ghi master boot record cho đĩa). dd if=boot1h of=/dev/rdisk0s2 (ghi boot sector cho phân vùng). cp boot / (copy file boot vào root). Sau khi hoàn thành các bước trên thì chúng ta có thể restart máy được rồi. Restart và màn hình bootloader Chameleon sẽ hiện ra, chọn Snow Leopard và boot. Tiếp theo chúng ta sẽ xử lý phần còn lại: driver (kext) cho các thiết bị VGA, và sound. Multiboot . 7. Multiboot Mac OS X và windows. Nếu các bạn cài đặt Mac OS X trên đĩa cứng vật lý riêng biệt, bạn hoàn toàn có thể set đĩa cứng chứa Snow Leopard được ưu tiên boot trong BIOS và dùng Chameleon để chọn vào Windows khi cần, rất đơn giản. Nhưng nếu chúng ta chỉ có một ổ đĩa thì sao? a. Multiboot trên MBR. Với đĩa cứng đang format dạng MBR (đa phần ổ cứng PC hiện nay đều dùng MBR) và Windows được cài đặt trước, chúng ta cần bản retail Snow Leopard đã được chỉnh sửa để cài đặt trên đĩa MBR (bản gốc của Apple chỉ cho phép cài trên GPT). Bước tiếp theo là dùng Acronis Disk Director (dùng trong Hiren’s Boot cho tiện), chia một phân vùng primary khoảng 20GB trở lên cho Snow Leopard, cuối cùng là active phân vùng đó như trong hình. Dữ liệu và Windows của bạn sẽ không bị gì hết. Tiếp theo chúng ta boot vào đĩa cài đặt SL (như hướng dẫn trong phần 3), vào Disk Utility và format phân vùng 20GB khi nãy mới chia theo chuẩn Mac OS Extended (Journaled). Nhớ đừng format nhầm đấy nhé. Các bước cài đặt còn lại diễn ra bình thường. Sau khi cài đặt Snow Leopard đã hoàn tất, bạn hãy thử dùng Chameleon chọn boot vào phân cùng Windows 7 xem sao? Không được à? Đúng vậy. Do Master Boot Record của đĩa cứng đã bị ghi đè bởi Chameleon (trong lệnh fdisk -f boot0 -u -y /dev/rdisk0 ở phần 3). Chúng ta cần sửa lại một chút boot sector cho phân vùng Windows 7 là được. Cách làm như sau: Boot vào đĩa Hiren Boot, khởi động Acronis Disk Director và active lại phân vùng của Windows 7. Boot vào đĩa cài đặt Windows 7 và chọn Repair my computer. Sau khi quá trình repair kết thúc, khởi động lại máy và dùng Aronis active lại phân vùng Snow Leopard. (nếu không thể repair tự động, các bạn vào tiếp command line trong mục các công cụ repair và gõ lệnh bootrec.exe /fixboot). Khởi động lại lần nữa, dùng Chameleon để chọn boot vào Windows 7, bây giờ thì mọi thứ ổn thỏa rồi nhé. b. Multiboot trên GPT. Nếu bạn quyết tâm format đĩa cứng theo GPT, điều này đồng nghĩa với việc xóa trắng toàn bộ dữ liệu (như đã nói phần 3) để định dạng lại đĩa. Sau khi dùng Disk Utility trong đĩa Snow Leopard format lại theo chuẩn GPT, chúng ta sẽ cài đặt Windows trước rồi Snow Leopard sau. Lưu ý chỉ Vista SP1 trở về sau mới có thể nhận diện và cài đặt trên đĩa cứng GPT. Sau khi cài đặt thành công Windows, các bạn cài đặt tiếp Snow Leopard như bình thường. Sau khi cài đặt hoàn tất, MBR cũng sẽ bị mất do Chameleon ghi đè. Các bạn làm theo hướng dẫn ở phần đĩa MBR để phục hồi boot record cho Windows. Theo VOZ.VN